Tiến sĩ Tâm lý học
Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngôn ngữ
Ngôn ngữ
Bản biên tập gửi tác giả duyệt
18 công trình · 4 hướng nghiên cứu
Hồ sơ nghề nghiệp
Tôi được đào tạo về tâm lý học và tâm lý học lâm sàng trẻ em – vị thành niên. Mười hai năm làm việc tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho tôi cơ hội quan sát cách căng thẳng tâm lý có thể xuất hiện qua cơ thể, hành vi và quan hệ gia đình. Trong nghiên cứu và giảng dạy, tôi quan tâm đến việc đưa đánh giá và can thiệp dựa trên bằng chứng vào những bối cảnh rất cụ thể của trẻ em Việt Nam. Luận án tiến sĩ của tôi đánh giá hiệu quả một chương trình tập huấn kỹ năng làm cha mẹ cho phụ huynh có con nhỏ gặp vấn đề hành vi. Công việc hiện nay của tôi nối bốn không gian: nghiên cứu, giảng dạy, thực hành lâm sàng và truyền thông khoa học cho cộng đồng.

Đào tạo
Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương trình hợp tác với École de Psychologues Praticiens Paris
Trường Đại học Văn Hiến
Vai trò nghề nghiệp
Bệnh viện Nhi Đồng 1
2005–2017Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Nguồn công khai chưa thống nhất mốc bắt đầuTổ chức chuyên môn
Thông tin do người tặng bổ sung, chờ TS. Diệu Anh xác nhận.
Đào tạo liên tục
Danh sách dưới đây được trình bày theo năm đào tạo. Tên chứng chỉ, đơn vị cấp và phạm vi thực hành cần được TS. Diệu Anh duyệt trước khi công bố.
Tên đầy đủ của chứng chỉ và đơn vị cấp cần TS. Diệu Anh hoàn thiện
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Hiệp hội EMDR Campuchia, Trauma Aid Đức và Đại học Worcester · đào tạo tại Thái Lan và Campuchia
Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội và St John of God Hospital
Nghiên cứu và công bố
Các hướng nghiên cứu tập trung vào nguy cơ rối loạn dạng cơ thể ở trẻ em và thanh thiếu niên, các phương pháp can thiệp hành vi, cùng việc xây dựng và thích ứng thang đo trí tuệ trong thực hành lâm sàng.
Nguyen Thi Dieu Anh (2017). Principles of behavioral intervention manuals and some simple behavioral intervention guidelines are common. In conference: “Pediatric treatment protocol”, p. 243–289, Y Học Publisher.
So với bản ghi đang có →Nguyen Thi Dieu Anh (2016). New intelligence scale – NEMI 2. In conference: “Psychological examination in clinical practice”, p. 17–129, Tri Thuc Publisher.
So với bản ghi đang có →Nguyen Thi Dieu Anh (2015). Mental illness study. In conference: “Clinical Psychology”, p. 57–119, Tri Thuc Publisher.
So với bản ghi đang có →Nguyen Thi Dieu Anh (2012). Précis d’expériences transculturelles, Clinique de l’enfance et de l’adolescence en France et au Vietnam, p. 147–162.
So với bản ghi đang có →Nguyen Thi Dieu Anh (2012). Researching about the risk factors of Somatoform disorder in Children and Adolescents.
So với bản ghi đang có →Nguyen Thi Dieu Anh (2009). Initial researching the risk factors of Somatoform disorder in Children and Adolescents.
So với bản ghi đang có →Nguyen Thi Dieu Anh (2005). Researching attitude, perception, behaviour of the parents who take your children to get examination at HCMC Psychiatric Hospital.
Chưa có bản ghi tương ứng trong thư mục nguồn.Dòng thời gian
Tôi học cử nhân Tâm lý học tại Trường Đại học Văn Hiến.
Tôi làm việc với trẻ em, vị thành niên và gia đình trong bối cảnh bệnh viện nhi.
Tôi nghiên cứu các yếu tố nguy cơ của rối loạn dạng cơ thể ở vị thành niên tại Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.
Tôi giảng dạy và nghiên cứu tại Khoa Tâm lý học, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM.
Tôi bảo vệ luận án về hiệu quả chương trình tập huấn cho cha mẹ của trẻ có vấn đề hành vi.
Tôi chuyển một phần công việc về kỹ năng làm cha mẹ thành hành trình thực hành dành cho gia đình có con 10–18 tuổi.